Trong bài viết này, “Danh mục kiểm kê khí nhà kính” được sử dụng như cách gọi ngắn gọn của Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính.
Ngày 10/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật). Quyết định có hiệu lực từ ngày 25/9/2026 và cập nhật danh mục đang áp dụng theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg.
Theo danh mục kiểm kê khí nhà kính mới, 2.441 cơ sở phát thải khí nhà kính thuộc diện phải thực hiện kiểm kê, tăng 275 cơ sở, tương đương khoảng 12,7% so với 2.166 cơ sở trong danh mục năm 2024.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng cơ sở tăng lên. Quyết định số 42 còn phản ánh việc cập nhật dữ liệu cơ sở phát thải và điều chỉnh cách phân nhóm theo cơ cấu quản lý nhà nước hiện hành. Tuy nhiên, 06 lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính không thay đổi so với năm 2024.
Giữ nguyên 06 lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính
Phụ lục I của Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg tiếp tục quy định 06 lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, gồm:
- Năng lượng, bao gồm công nghiệp sản xuất năng lượng; tiêu thụ năng lượng trong công nghiệp, thương mại, dịch vụ và dân dụng; khai thác than; khai thác dầu và khí tự nhiên;
- Giao thông vận tải, gồm tiêu thụ năng lượng trong giao thông vận tải;
- Xây dựng, gồm tiêu thụ năng lượng trong ngành xây dựng và các quá trình công nghiệp trong sản xuất vật liệu xây dựng;
- Các quá trình công nghiệp, bao gồm sản xuất hóa chất; luyện kim; công nghiệp điện tử; sử dụng sản phẩm thay thế cho các chất làm suy giảm tầng ô-dôn; sản xuất và sử dụng các sản phẩm công nghiệp khác;
- Nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất, gồm chăn nuôi; lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất; trồng trọt; tiêu thụ năng lượng trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; các nguồn phát thải khác trong nông nghiệp;
- Chất thải, bao gồm bãi chôn lấp chất thải rắn; xử lý chất thải rắn bằng phương pháp sinh học; thiêu đốt và đốt lộ thiên chất thải; xử lý và xả thải nước thải.
Danh mục này tại Quyết định số 42 năm 2026 trùng về cấu trúc với Phụ lục I của Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg. Như vậy, thay đổi trọng tâm của lần cập nhật năm 2026 nằm ở danh sách các cơ sở cụ thể phải thực hiện kiểm kê, chứ không phải việc bổ sung thêm một lĩnh vực phát thải mới.
Danh mục kiểm kê khí nhà kính năm 2026 tăng lên 2.441 cơ sở
So với Quyết định số 13 năm 2024, số lượng cơ sở thuộc danh mục kiểm kê khí nhà kính năm 2026 thay đổi như sau:

Nguồn chính thức của Cục Biến đổi khí hậu xác nhận danh mục kiểm kê khí nhà kính năm 2022 có 1.912 cơ sở; năm 2024 có 2.166 cơ sở; trong khi đó, danh mục năm 2026 có 2.441 cơ sở, gồm 1.916 cơ sở ngành Công thương, 53 cơ sở thuộc lĩnh vực Giao thông vận tải, 411 cơ sở thuộc lĩnh vực Xây dựng và 61 cơ sở ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Điều quan trọng cần lưu ý là 275 là mức tăng ròng của danh mục kiểm kê khí nhà kính, không đồng nghĩa với việc có đúng 275 cơ sở hoàn toàn mới được bổ sung. Một kỳ cập nhật có thể đồng thời bổ sung cơ sở mới, loại cơ sở không còn đáp ứng điều kiện và cập nhật thông tin đối với các cơ sở hiện hữu.
Ngành Công Thương vẫn chiếm phần lớn danh mục
Số cơ sở thuộc ngành Công thương tăng từ 1.805 cơ sở năm 2024 lên 1.916 cơ sở năm 2026, tăng ròng 111 cơ sở, tương đương khoảng 6,1%. Với 1.916/2.441 cơ sở, nhóm Công thương chiếm khoảng 78,5% toàn bộ danh mục năm 2026.
Danh mục bao gồm nhiều loại hình sản xuất và hoạt động có mức sử dụng năng lượng hoặc phát thải đáng kể như sản xuất điện, thép và luyện kim, hóa chất, khai thác và chế biến khoáng sản, dệt may, giấy, nhựa, thực phẩm và nhiều ngành sản xuất công nghiệp khác.
Ngay từ những trang đầu của Phụ lục II của Quyết định số 42 năm 2026 đã có các cơ sở thuộc sản xuất gang thép, khai thác khoáng sản, thủy điện, hóa chất và luyện kim.
Việc số cơ sở thuộc ngành Công thương thay đổi qua từng kỳ là phù hợp với cơ chế rà soát danh mục: quy mô sản xuất, mức tiêu thụ năng lượng và tình trạng hoạt động của một cơ sở có thể thay đổi theo thời gian, đồng thời dữ liệu tại địa phương tiếp tục được cập nhật.
Lĩnh vực Xây dựng là nhóm có mức tăng lớn nhất
Số cơ sở thuộc lĩnh vực Xây dựng tăng từ 229 lên 411, tăng ròng 182 cơ sở, tương đương khoảng 79,5%. Đây là nhóm đóng góp lớn nhất vào mức tăng chung của danh mục năm 2026.
Đáng chú ý: Danh mục thuộc lĩnh vực Xây dựng không chỉ có các cơ sở sản xuất xi măng, gạch, gốm, kính và vật liệu xây dựng mà còn có một số công trình tiêu thụ năng lượng lớn như trung tâm thương mại, khách sạn và cảng hàng không.
Lĩnh vực Giao thông vận tải giảm từ 75 xuống 53 cơ sở
Ngược với Công thương và Xây dựng, số cơ sở thuộc lĩnh vực Giao thông vận tải giảm từ 75 xuống còn 53, tức giảm ròng 22 cơ sở.
Một thay đổi đáng chú ý về cấu trúc là Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg dành Phụ lục III riêng cho ngành Giao thông vận tải. Trong khi đó, trong Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg, danh mục này được bố trí tại Phụ lục III.A thuộc ngành Xây dựng – lĩnh vực Giao thông vận tải, trong khi Phụ lục III.B là lĩnh vực Xây dựng.
Cách sắp xếp này phù hợp với cơ cấu quản lý nhà nước hiện hành sau khi chức năng quản lý giao thông vận tải được đặt trong Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, việc thay đổi đầu mối quản lý không đồng nghĩa với nguyên nhân trực tiếp làm giảm 22 cơ sở. Sự giảm số lượng cần được hiểu là kết quả ròng sau quá trình rà soát danh mục.
Ngành Nông nghiệp và Môi trường tăng nhẹ về số lượng cơ sở
Quyết định số 13 năm 2024 quy định 57 cơ sở thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường tại Phụ lục V. Đến Quyết định số 42 năm 2026, nhóm này được cập nhật thành ngành Nông nghiệp và Môi trường, với 61 cơ sở. Ngoài ra, việc thay đổi về tên gọi và đầu mối quản lý cũng phản ánh cơ cấu tổ chức mới của cơ quan quản lý nhà nước. Về số lượng, danh mục tăng ròng 4 cơ sở, tương đương với mức tăng khoảng 7%.
Vì sao danh mục các cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính có thể thay đổi?
Theo quy định của Nghị định 06/2022/NĐ-CP, việc xác định danh mục cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính dựa trên các tiêu chí về phát thải, tiêu thụ năng lượng hoặc quy mô hoạt động đối với một số loại cơ sở. Đồng thời, danh mục được rà soát, cập nhật định kỳ, trên cơ sở thông tin từ các Bộ quản lý lĩnh vực và địa phương.
Điều này có nghĩa danh mục giữa hai kỳ có thể thay đổi do nhiều nguyên nhân: cơ sở mới đi vào hoạt động hoặc tăng quy mô và đáp ứng tiêu chí; cơ sở trước đây chưa thuộc danh mục được bổ sung sau khi cập nhật dữ liệu; cơ sở dừng hoạt động hoặc giảm quy mô; hoặc thông tin về tên, địa chỉ, pháp nhân và hoạt động của cơ sở được điều chỉnh.
Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg tiếp tục giao UBND các tỉnh, thành phố phối hợp với các Bộ quản lý để rà soát, cập nhật thông tin và chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của danh mục cơ sở trên địa bàn.
Do đó, sự thay đổi số lượng cơ sở giữa năm 2024 và 2026 nên được nhìn nhận là kết quả của quá trình rà soát và cập nhật danh mục theo dữ liệu mới, thay vì mặc nhiên xem là sự gia tăng hoặc suy giảm phát thải của từng ngành.
Cũng cần lưu ý rằng Quyết định số 42 năm 2026 được triển khai trong bối cảnh Nghị định 06/2022/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP và tiếp tục được sửa đổi bởi Nghị định 83/2026/NĐ-CP. Vì vậy, việc xác định nghĩa vụ của từng cơ sở cần căn cứ vào hệ thống quy định hiện hành, không chỉ dựa vào việc so sánh số lượng giữa hai danh mục.
Doanh nghiệp cần lưu ý gì sau khi Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg được ban hành?
Trước hết, doanh nghiệp cần xác định cơ sở của mình có nằm trong danh mục kiểm kê khí nhà kính cập nhật hay không, thay vì chỉ dựa vào việc doanh nghiệp có từng nằm trong Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg.
Các cơ sở thuộc danh mục có trách nhiệm thực hiện kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở theo hướng dẫn của Bộ quản lý lĩnh vực, đồng thời xây dựng và nộp báo cáo theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP và Nghị định 83/2026/NĐ-CP.
Đối với các cơ sở mới xuất hiện trong danh mục kiểm kê kính nhà kính năm 2026, việc chuẩn bị sớm dữ liệu hoạt động, dữ liệu nhiên liệu – năng lượng, nguồn phát thải, hệ số phát thải và cơ chế kiểm soát chất lượng dữ liệu sẽ giúp giảm đáng kể áp lực khi bước vào kỳ kiểm kê và báo cáo.
Với các cơ sở đã thực hiện kiểm kê trước đây, Quyết định số 42 năm 2026 cũng là thời điểm phù hợp để rà soát lại ranh giới kiểm kê, nguồn phát thải, quy trình thu thập dữ liệu và khả năng truy xuất bằng chứng nhằm nâng cao độ tin cậy của kết quả.

Từ kiểm kê khí nhà kính đến quản lý phát thải
Việc danh mục tăng từ 2.166 lên 2.441 cơ sở cho thấy phạm vi các cơ sở thuộc diện quản lý phát thải khí nhà kính tại Việt Nam tiếp tục được cập nhật và mở rộng. Điều này cũng đặt ra yêu cầu ngày càng rõ ràng hơn đối với doanh nghiệp trong việc chuẩn hóa dữ liệu và chủ động quản lý phát thải.
Kiểm kê khí nhà kính vì vậy không chỉ nên được xem là một nghĩa vụ báo cáo định kỳ. Khi được xây dựng bài bản, hệ thống kiểm kê còn giúp doanh nghiệp nhận diện các nguồn phát thải trọng yếu, nâng cao chất lượng dữ liệu năng lượng và môi trường, thiết lập đường cơ sở và xác định các cơ hội giảm phát thải. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp từng bước đáp ứng các yêu cầu về quản lý carbon đang ngày càng phát triển.
Đối với các doanh nghiệp thuộc danh mục kiểm kê khí nhà kính theo Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg, việc cần làm trước tiên là xác định chính xác phạm vi nghĩa vụ và đánh giá mức độ sẵn sàng của dữ liệu hiện có. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể thiết lập quy trình thu thập, kiểm soát và tổng hợp dữ liệu phát thải một cách nhất quán, đồng thời bảo đảm khả năng duy trì qua các kỳ kiểm kê tiếp theo.
Khung Quản lý Phát thải Khí Nhà kính

Kiểm kê khí nhà kính là một bước quan trọng, nhưng để quản lý phát thải hiệu quả, doanh nghiệp cần một cách tiếp cận tổng thể, bài bản hơn – từ Chiến lược, Tổ chức và Nhân sự, Quy trình, Đo lường và Kiểm kê đến Dữ liệu và Báo cáo, cùng với việc chuẩn bị nền tảng về Quản trị, Năng lực, Công nghệ và Cơ sở hạ tầng.
Trên cơ sở đó, CGS Việt Nam phối hợp cùng EGP Việt Nam xây dựng tài liệu “Khung Quản lý Phát thải Khí Nhà kính”, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá hiện trạng và từng bước xây dựng năng lực quản lý phát thải một cách có hệ thống.
Khung cung cấp cách tiếp cận thực tiễn để doanh nghiệp xác định những cấu phần cần thiết trong quản lý phát thải, nhận diện khoảng trống và định hướng các nội dung cần ưu tiên hoàn thiện.
→ Tìm hiểu và nhận tài liệu tại: Khung Quản lý Phát thải Khí Nhà kính
————–
Tài liệu tham khảo:
- Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg ngày 10/8/2026 về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật).
- Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg ngày 13/8/2024 về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật).
- Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
- Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 06/2022/NĐ-CP.
- Nghị định số 83/2026/NĐ-CP ngày 23/3/2026 tiếp tục sửa đổi, bổ sung Nghị định số 06/2022/NĐ-CP.
- Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường – thông tin cập nhật danh mục cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính năm 2026.
Về CGS Việt Nam
Công ty Cổ phần Tư vấn Quản trị CGS Việt Nam cung cấp các giải pháp tư vấn chuyên sâu về Quản trị Công ty, Phát triển Bền vững (ESG), Quản lý Rủi ro & Kiểm toán Nội bộ. Với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm và am hiểu thông lệ quốc tế, CGS Việt Nam đồng hành cùng doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản trị hiệu quả, nâng cao năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư và hướng tới phát triển bền vững.
—————
Liên hệ với CGS Việt Nam:
Hotline: (+84) 363 581 520 | Email: [email protected] | Website: https://cgsvietnam.com/
LinkedIn: https://www.linkedin.com/company/cgs-vietnam | Facebook: https://www.facebook.com/CGSVietnamCompany/


